Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Ngành sản xuất đường Việt Nam


Nhu cầu đường trong nước?

1,4 triệu tấn (cho cả sản xuất và tiêu dùng)

Nhu cầu này đang được đáp ứng bằng cách nào?

Sản xuất trong nước: 1 triệu tấn trong niên vụ 2011-2012. Dự kiến niên vụ 2012-2013: 1,5 triệu tấn.
Nhập khẩu: Còn lại.

Sản xuất trong nước từ đâu?

40 nhà máy sản xuất đường
3 vùng: Bắc, Trung-Tây Nguyên và ĐBSCL

Các nhãn hiệu đường đạt chuẩn quốc tế?

Đường Biên Hòa, 
Đường Bourbon Tây Ninh
Đường La Ngà

Các loại đường được sản xuất?

Đường tinh luyện: 0,7 triệu tấn, từ 9/40 nhà máy
Đường trắng đồn điền.

Giá 1 kg đường tinh luyện tại thời điểm tháng 10/2012?

Đường nội: 23.000 - 24.000 / kg. Xu hướng: Tiếp tục giảm.
Đường nhập: Hiện đang rẻ hơn trong nước khoảng 20-30%.

Vùng trồng mía và sản xuất đường lớn nhất?

Tây Ninh. Hiện có 3 nhà máy: Công ty cổ phần Bourbon - Tây Ninh, Công ty mía đường Tây Ninh (nhà máy đường Nước Trong) và Nhà máy đường Biên Hòa  - Tây Ninh

Các nhà sản xuất đường lớn nhất?

Công ty cổ phần Bourbon - Tây Ninh (HOSE: SBT)
Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn (HOSE: LSS)

Công suất của một số nhà máy sản xuất đường lớn


Số liệu tính đến giữa 2011.
SBT = Bourbon - Tây Ninh
LSS = Mía đường Lam Sơn
BHS = Đường Biên Hoà
KTS = Mía đường Kon Tum
NHS = Đường Ninh Hoà
SEC = Mía đường Nhiệt điện Gia Lai

Nhập khẩu chủ yếu từ đâu?

Ấn Độ và Australia

Chu kỳ kinh doanh của ngành?

Sản xuất: Tháng 11 - Tháng 4 -> Sản lượng sản xuất được dự trữ cho nhu cầu tiêu thụ cả năm
Sốt: Tháng 7-8 (dự trữ giảm, nhu cầu tăng)

Cạnh tranh giữa các công ty đường gay gắt nhất ở đâu?

Vùng nguyên liệu mía

Đầu vào?

Chi phí nguyên liệu mía chiếm 70-80% doanh thu. -> Bất cập là ở đây. Chi phí này quá lớn.
Chi phí bán hàng chiếm 1-2% doanh thu (do bán hàng qua đại lý phân phối).

Đầu ra?


Các nhà máy đường bị phụ thuộc vào đại lý phân phối. Các đại lý phân phối cũng hay thao túng giá trong nước.

Các thành viên của Hiệp hội Mía đường Việt Nam


  1. Công ty CP Bourbon Tây Ninh
  2. Công ty CP CKTP & Xây Lắp Biên Hòa
  3. Công ty CP Đường Biên Hòa
  4. Công ty CP Đường Bình Định
  5. Công ty CP Đường Khánh Hòa
  6. Công ty CP Đường Kon Tum
  7. Công ty CP Đường Ninh Hòa
  8. Công ty CP Đường Nông Cống
  9. Công ty CP Đường Nước
  10. Công ty CP Đường Quảng Ngãi
  11. Công ty CP Mía Đường 333
  12. Công ty CP Mía Đường Bến Tre
  13. Công ty CP Mía Đường Cần Thơ
  14. Công ty CP Mía Đường Cao Bằng
  15. Công ty CP Mía Đường Đăk Nông
  16. Công ty CP Mía Đường Hiệp Hòa
  17. Công ty CP Mía Đường Hòa Bình
  18. Công ty CP Mía Đường La Ngà
  19. Công ty CP Mía Đường Lam Sơn
  20. Công ty CP Mía Đường Nhiệt Điện Gia Lai
  21. Công ty CP Mía Đường Phan Rang
  22. Công ty CP Mía Đường Sóc Trăng
  23. Công ty CP Mía Đường Sơn Dương
  24. Công ty CP Mía Đường Sơn La
  25. Công ty CP Mía Đường Sông Con
  26. Công ty CP Mía Đường Sông Lam
  27. Công ty Cp Mía Đường Tây Nam
  28. Công ty CP Mía Đường Trà Vinh
  29. Công ty CP Mía Đường Tuy Hòa
  30. Công ty CP SXTM Thành Thành Công
  31. Công ty CP Thực Phẩm Công nghệ Sài Gòn
  32. Công ty CP Thực Phẩm Miền Bắc
  33. Công ty Mía Đường Cồn Long Mỹ Phát
  34. Công ty TNHH Công Nghiệp KCP
  35. Công ty TNHH Đường Mía Việt Nam - Đài Loan
  36. Công ty TNHH Mía Đường Nghệ An Tate & Lyle
  37. Công ty TNHH Thực Phẩm Công Nghệ Minh Tâm
  38. Tổng Công Ty Mía Đường 1
  39. Tổng Công Ty Mía Đường 2
  40. Viện Nghiên Cứu Mía Đường
Nguồn: Chứng khoán Tân Việt, Chứng khoán Phú Hưng, Hiệp hội Mía đường Việt Nam


NMLD Dung Quất và Nghi Sơn

1. Dung Quất

Vị trí

Xã Bình Thuận và Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam

Xây dựng?

3 năm rưỡi: 11/2005 - 02/2009
Khánh thành: 01/2011

Vốn đầu tư

3 tỷ USD

Công suất?

6,5 triệu tấn dầu thô/năm tương đương 148.000 thùng/ngày, dự kiến đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam

Dầu thô từ đâu?

Giai đoạn 1: Dầu ngọt từ mỏ Bạch Hổ (100%). Bạch Hổ chỉ có dầu ngọt (S thấp) và sẽ deplete trong khoảng 10 năm nữa.
Giai đoạn 2: Dầu ngọt từ mỏ Bạch Hổ (85%) và dầu chua (S cao) từ Dubai (15%)

Sản phẩm?

Khí hóa lỏng (gas) LPG: 900-1.000 tấn/ngày
Xăng A90: 2.900-5.100 tấn/ngày
Xăng A92-95: 2.600-2.700 tấn/ngày
Dầu Diesel: 7.000-9.000 tấn/ngày
Các sản phẩm khác như Propylene: 320-460 tấn/ngày
Xăng máy bay Jet-A1 và nhiên liệu cho động cơ phản lực: 650-1.250 tấn/ngày
Dầu đốt lò FO: 1.000-1.100 tấn/ngày

Chủ sở hữu

PetroVietnam (via Công ty TNHH MTV Lọc Hóa Dầu Bình Sơn (BSR))


Contractor?

Technip; JGC & Tecnicas Reunidas

Tương lai?

Sẽ thêm hoá dầu (sản xuất ra các loại nhựa như polimer, xơ sợi nhân tạo). Hiện nay mới lọc dầu. -> Cần đầu tư mở rộng 2-3 tỷ USD -> PVN đang rao bán 49% cổ phần.


2. Nghi Sơn (chuẩn bị triển khai)

Vị trí

Khu kinh tế Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá, Việt Nam (cách Hà Nội 180 km)

Xây dựng?

Q4-2012 bắt đầu


Vốn đầu tư

8-10 tỷ USD

Công suất?

200.000 thùng/ngày

Dầu thô từ đâu?

Kuwait. Kuwait Petroleum Corp. cung cấp.

Sản phẩm?

TBD

Chủ sở hữu


Idemitsu Kosan (35,1%)
Kuwait Petroleum International (35,1%) - thuộc Kuwait Petroleum Corp. 
PetroVietnam (25,1%)
Mitsui Chemicals Inc. (4,7%)

Contractor?

TBD

Lược sử Việt Nam tóm tắt

Lược sử Việt Nam tóm tắt 

VĂN LANG

Vào thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, 15 bộ lạc sinh sống tại vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, miền bắc Việt Nam ngày nay thống nhất lập nên nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên của người Việt. Kinh đô đóng tại Phong Châu (Vĩnh Phú ngày nay). Vua nước Văn Lang, tất cả 18 đời, đều xưng  là Hùng Vương.

ÂU LẠC

Thế kỷ thứ 2 trước CN, sau cuộc kháng chiến chống lại quân Tần Thủy Hoàng (218-208), nhà nước phong kiến Trung Quốc ở phương Bắc, Thục Phán lên làm vua nước Văn Lang xưng là An Dương Vương và đổi tên nước thành Âu Lạc, xây thành ốc ở Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội) làm kinh đô.

PHƯƠNG BẮC ĐÔ HỘ

Năm 179 trước CN, nước Âu Lạc bị nước Nam Việt của Triệu Đà xâm lược. (Triệu Đà là tướng quân của nhà Tần. Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, ông ta nhân cơ hội chiếm phần đất do mình được giao cai quản ở phía nam nước Tần lập nên nước Nam Việt. Còn nhà Tần thì bị nhà Hán thay thế.) Nước Âu Lạc bị đô hộ mở đầu cho thời kỳ lịch sử đen tối, đau thương, đầy uất hận dài đằng đẵng hơn 1000 năm của dân tộc Việt. Nước Âu Lạc bị sáp nhập thành các quận, huyện của các nhà nước phong kiến phương Bắc (qua các triều đại Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường của Trung Quốc). Trong thời gian này, tuy bị cai trị, bóc lột tàn nhẫn, hà khắc nhưng nhân dân ta vẫn không những chẳng khi nào chịu khuất phục mà còn liên tục vùng lên đấu tranh nhằm giành lại độc lập tự chủ, chống bị Hán hóa.

HAI BÀ TRƯNG 

Sau CN, năm 40, Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh. Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi. Nhưng chỉ 3 năm sau. Đất nước lại bị rơi vào tay nhà Hán.

Nhiều cuộc khởi nghĩa lại dậy lên sau đó nhưng thất bại.

BÀ TRIỆU
 
Năm 248, khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Ngô thất bại.

VẠN XUÂN
 
Năm 542, Lý Bí khởi nghĩa thành công, giành lại đuợc độc lập từ tay nhà Lương, xưng là Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân với mong muốn đất nước mãi mãi trường tồn. 

Năm 545, nhà Lương đem quân sang xâm lược nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế thua trận liên tục phải rút về động Khuất Lão. Tại đây ông bị bệnh chết. Triệu Quang Phục lên thay. Triệu Quang Phục lui quân về đầm Dạ Trạch thực hiện chiến tranh du kích. 

năm 550, Triệu Quang Phục mới giành được thắng lợi, khôi phục nước Vạn Xuân, tự xưng là Triệu Việt Vương. 

Năm 571, Triệu Quang Phục bị Lý Phật Tử cướp ngôi.

LẠI BỊ ĐÔ HỘ
 
Năm 602-603, Lý Phật Tử không chống được cuộc xâm lược của giặc, nước ta lại rơi vào tay nhà Tùy, rồi nhà Đường.

Năm 722, Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa. Thất bại.

KHÚC

Năm 905, Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa giành được chính quyền. Nhà Đường công nhận chính quyền tự chủ của ông. 

Năm 930, quân Nam Hán sang xâm lược nước ta. Nam Hán là một nước do Luu Ẩn, tướng của nhà Hậu Lương cát cứ vùng đất Hoa Nam mà mình được nhà Lương giao cho cai quản thành lập (nhà Lương cướp ngôi nhà Đường vào năm 907). Người đứng đầu nước ta lúc đó là Khúc Thừa Mỹ không chống lại được, bị bắt sang Nam Hán. Các tướng lĩnh của họ Khúc tổ chức nhiều cuộc kháng chiến. 

Năm 931, cuộc kháng chiến do Dương Đình Nghệ lãnh đạo thành công. Ông được tôn làm Tiết Độ Sứ.

NGÔ
 
Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ cướp quyền lãnh đạo. Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ khởi binh trừng phạt. Kiều Công Tiễn cầu cứu nước Nam Hán và dĩ nhiên vua Nam Hán vui vẻ nhận lời.

Năm 938, quân Nam Hán do thái tử Hoằng Tháo kéo sang nước ta theo đường thủy định phối hợp với Kiều Công Tiễn đánh bại Ngô Quyền. Nhưng Hoằng Tháo chưa đến nơi thì Ngô Quyền đã diệt được Kiều Công Tiễn và bố trí trận địa chờ sẵn. Khi quân Nam Hán lọt vào trận địa mai phục của Ngô Quyền ở cửa sông Bạch Đằng thì bị đánh cho tan tác. Hoằng Tháo chết trận, quân Nam Hán tháo chạy về nước. Vua Nam Hán bỏ mộng xâm lược.

Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, dựng kinh đô tại Cổ Loa. Mở ra thời kỳ độc lập tự chủ hòan toàn cho nước ta sau hơn 1000 năm bị đô hộ bởi phong kiến phương bắc.

Năm 944, Ngô Quyền chết. Tình hình đất nước rơi vào cảnh hỗn lọan, tranh dành quyền lực giữa các phe phái tướng lĩnh và con của Ngô Quyền (Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn).

Năm 965, vị vua cuối cùng của triều Ngô là Ngô Xương Văn chết, các tướng lĩnh địa phương thi nhau cát cứ. Đất nước bị chia cắt thành 12 sứ quân.

ĐINH


Năm 967, Đinh Bộ Lĩnh  thống nhất được 12 sứ quân. Do ông đánh đâu thắng đấy nên đuợc dân chúng tôn là Vạn Thắng Vương. Năm 968, Vạn Thắng Vương lên ngôi Hòang Đế xưng là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, kinh đô đóng tại Hoa Lư.

Năm 979, Đỗ Thích ám hại Đinh Tiên Hoàng cùng con là Đinh Liễn. Triều thần bắt giết Đỗ Thích, lập Đinh Toàn, 5 tuổi, lên làm vua. Thái hậu Dương Vân Nga nhiếp chính, quyền phụ chính được giao cho Lê Hoàn. Lúc này, nhà Tống thấy tình hình nước ta rối ren, vua còn nhỏ tuổi như vậy thì cho đó là cơ hội trời cho để thôn tính bèn giao Hồ Nhân Bảo xua quân xâm lược. Được tin, Thái Hậu Dương Vân Nga cùng triều thần nhất trí nhường ngôi báu cho Lê Hòan để ông có được tòan quyền mà dốc sức chống Tống.

TIỀN LÊ

Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi xưng là Đại Hành Hoàng Đế (Lê Đại Hành). Ông gấp rút tổ chức lại bộ máy hành chính, chỉnh đốn quân đội chuẩn bị nghênh chiến.

Năm 981, quân Tống ồ ạt tấn công Đại Cồ Việt theo cả hai đường thủy, bộ. Nhờ chuẩn bị tốt, và tài mưu lược. Lê Hoàn đánh bại quân Tống, giữ yên bờ cõi. 

Năm 1005, Lê Hòan chết, các con của ông tranh nhau giành ngôi báu. Lê Long Đĩnh thắng lên làm vua (Lê Ngọa Triều). Ông vua này rất thích bạo lực, sa đọa và trụy lạc nên không đựơc lòng dân chúng.

LÝ


Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết. Được sự ủng hộ của nhiều người, Lý Công Uẩn tự xưng vua (Lý Thái Tổ) lập ra triều đại nhà Lý kéo dài 216 năm với 9 đời vua (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hòang). 

Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh đô về thành Đại La. Sau đổi tên thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay).

Năm 1072, Lý Nhân Tông lên ngôi khi mới 6 tuổi. Nhà Tống bên Trung Quốc cho là cơ hội tốt chuẩn bị lương thảo có ý xâm lược nước ta. Vì vua còn nhỏ nên quan phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt nắm trọn binh quyền. 

Năm 1075, Lý Thường Kiệt chủ trương "đánh phủ đầu" quân Tống để tự vệ trước bèn tập trung 10 vạn quân thủy bộ chia làm hai đường đánh sang đất Tống với mục đích phá hủy các kho dữ trữ lương thảo hậu cần nằm ở Ung Châu và Khâm Châu, Liêm Châu mà nhà Tống đang chuẩn bị để phục vụ cho cuộc xâm lược nước ta. Quân Thủy đánh Khâm Châu, quận bộ đánh Ung Châu. Bị bất ngờ nên quân Tống thua liên tiếp. Nửa tháng sau chính quyền Tống ở trung ương mới biết được tin. Vua Tống lập tức chuẩn bị đại binh dự định đánh thẳng vào nước ta để giải vây. 

Năm 1076, tháng 3, sau sáu tháng tiến công, quân ta đã đạt được mục đích và rút về nước cũng là đề phòng bị đánh úp. Khi đó, đại binh quân Tống còn chưa kịp lên đường. 

Năm 1076, tháng 8, sau khi củng cố lực lượng, nhà Tống đem 30 vạn quân chia hai đường thủy, bộ bắt đầu xâm lược nước ta và cũng là để trả thù cho sự kiện ở trên. Lý Thường Kiệt chọn địa điếm quyết chiến tại sông Như Nguyệt, xây dựng phòng tuyến phòng thủ tại bờ nam chờ giặc. 

Năm 1077, tháng 1, quân Tống đến phòng tuyến Như Nguyệt  và bị chặn đứng ở đó. Thế trận giằng co kéo dài, binh Tống ngày một hao tổn do thiếu lương thực vũ khí vì bị quân ta đánh du kích. cuối cùng quân Tống phải chấp nhận giảng hòa rút quân về. Triều Lý bắt tay xây dựng đất nước và bước vào thời kỳ hưng thịnh.

Từ 1138, triều Lý có dấu hiệu suy  yếu do các vua đều lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, bị chết yếu,... quyền hành rơi vào tay ngọai tộc vốn lắm kẻ gian tham, bất tài, hại dân. Vào cuối triều nhà Lý, các quý tộc quan lại họ Trần nổi lên là một thế lực lớn có công giúp nhà Lý bình định thiên hạ. 

Năm 1225, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, 7 tuổi. Quyền bính nằm cả trong tay quan điện tiền Trần Thủ Độ.

TRẦN
 
Năm 1226, dưới sức ép của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng mình là Trần Cảnh (Trần Thái Tông), cháu của Trần Thủ Độ, khi ấy cũng mới 8 tuổi. Quyền hành vẫn trong tay Trần Thủ Độ với địa vị Thái Sư. Trần Thủ Độ tìm mọi cách để "nhổ sạch rễ" họ nhà Lý, củng cố địa vị cho họ Trần. Nhà Lý kết thúc ở đây.

Những việc làm của Trần Thủ Độ gây nên một cuộc khủng hoảng chính trị, gây nhiều bất bình trong dân chúng. Thậm chí còn gây nên mâu thuẫn lớn giữa một số người trong họ Trần. Tuy nhiên, thế lực của Trần Thủ Độ quá lớn nên mọi việc cuối cùng cũng êm xuôi. Triều đại nhà Trần dần phát triển và kéo dài 175 năm qua 12 đời vua (Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Dụ Tông, Dương Nhật Lễ, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông, Trần Phế Đế, Trần Thuận Tông, Trần Thiếu Đế). Triều Trần hưng thịnh nhất sau khi 3 lần đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên(Trung Quốc).

TRẦN ĐÁNH NGUYÊN MÔNG 1
 
Năm 1258, quân Mông Cổ xâm lược nước Đại Việt của nhà Trần. Khi ấy Mông Cổ là một đại đế quốc lớn nhất thế giới trong lịch sử có lãnh thổ bao gồm khỏang 40 nước trải dài từ bờ Thái Bình Dương cho tới Trung Đông, Đông Âu  và vẫn tiếp tục bành trướng. "Vó ngựa Mông Cổ đi tới đâu, nơi ấy cỏ cây không mọc được". Lần xâm lược Đại Việt này nằm trong kế họach bành trướng xuống phía Nam của Đại hãn Mông Cổ lúc đó là Mông Kha (Mong Ke).

Quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy chia làm nhiều cánh tràn vào Đại Việt tới Bạch Hạc (Vĩnh Phú ngày nay) thì hợp lại cùng tiến về Thăng Long. Vua Trần Thái Tông và các tướng lĩnh lần đầu ra quân gặp cường địch, non kinh nghiệm đối phó với kỵ binh Mông Cổ nên liên tiếp thua trận phải thi hành kế sách bỏ Thăng Long vườn không nhà trống rút về phía Nam bảo tòan lực lượng chờ thời cơ, đồng thời để một số quân ở lại kết hợp với dân chúng quanh vùng đánh du kích.  Quân Mông Cổ vào đến Thăng Long không cuớp bóc được nhiều của cải lương thực để nuôi quân lại không quen khí hậu nên sinh bệnh, mệt mỏi, rối loạn đội ngũ, nhụt nhuệ khí chiến đấu. Một đêm, Vua Trần bất ngờ tổ chức tập kích doanh trại quân giặc. Quân Mông Cổ hốt hoảng không kịp phản ứng giày xéo nhau mà chạy, bị giết rất nhiều. Đại quân Trần truy sát lại thêm phục binh quân Trần đổ ra chặn đánh khắp nơi, quân Mông Cổ chạy về Vân Nam (Trung Quốc) mà không có thời gian dừng lại giết cướp. Chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng Đại Việt sạch bóng quân Mông Cổ. Chúng chỉ ở Thăng Long vỏn vẹn được 9 ngày.

TRẦN ĐÁNH NGUYÊN MÔNG 2
 
Đầu năm 1285, quân Nguyên sang xâm lược nước ta. Nhà Nguyên bên Trung quốc là do Hốt Tất Liệt, em trai của đại hãn Mông Cổ Mông Kha, diệt nước Tống, độc chiếm Trung Quốc dựng nên. Vì vậy ta hay gọi quân Nguyên là Nguyên Mông hay Mông Nguyên.

50 vạn quân Nguyên chia làm 3 đường tiến chiếm Đại Việt. Đích thân con trai Hốt Tất Liệt, thái tử Thoát Hoan, chỉ huy hai đạo quân bộ từ hai hướng đông bắc, tây bắc Đại Việt đánh xuống, đạo quân thủy do Toa Đô từ nước Chiêm Thành (sau khi lập nhà Nguyên, Hốt Tất Liệt đã sai Toa Đô đánh Chiêm Thành trước), phía nam Đại Việt đánh lên. Quân nhà Trần bị kẹp vào giữa. Vua Trần lúc này là Trần Nhân Tông cử Trần Quang Khải làm Thượng Tướng Thái Sư, Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết Chế thống lĩnh ba quân chống giặc.

Quốc Công Tiết Chế đem quân chặn đánh quân bộ phía đông của Thoát Hoan trước. Trần Nhật Duật thì chặn cánh quân phía Tây do Nạp Tốc Lạt Dinh chỉ huy. Trước thế giặc mạnh, vua tôi nhà Trần vừa đánh vừa rút lui chiến thuật.  Quân Nguyên cứ thế chiếm Nội Bàng, Vạn Kiếp... Khi quân Nguyên tới Thăng Long thì vua Trần đã rút về Thiên Trường (Nam Định) bỏ lại kinh thành trống không như lần kháng Mông Cổ lần trước.  Về Thiên Trường, Trần Quốc Tuấn cử Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải trấn giữ Hoan Châu (Nghệ An) chặn đường tiến quân Toa Đô. Khi Thoát Hoan chiếm Thăng Long thì Trần Quốc Tuấn lại kéo quân ra lấy lại Vạn Kiếp đánh sau lưng Thoát Hoan. Thoát Hoan bị vây liền cho người về nước xin thêm binh cứu viện. Lúc đó, ở phía Nam, Trần Nhật Duật rồi Trần Quang Khải không ngăn được Toa Đô. Khi Toa Đô tiến vào đến Ái Châu (Thanh Hóa), Vua Trần công kích Thóat Hoan ở Thăng Long nhưng không được lại lui về Thiên Trường. Thoát Hoan đuổi theo. Trần Quốc Tuấn phải đem quân từ Vạn Kiếp về Thiên Trường rồi cùng Vua Trần rút ra phía Hải Dương. Thoát Hoan đuổi theo sát gót. Đồng thời Toa Đô cũng kéo quân thủy theo đường biển từ Ái Châu ra đuổi theo. Trần Quốc Tuấn sử dụng kế nghi binh dụ quân Nguyên đuổi theo Vua Trần ra đường biển còn mình đưa vua Trần thoát vào Ái Châu theo đường bộ, thóat hiểm trong tíc tắc... 

Thời tiết bắt đầu sang hè, nắng nóng và lụt lội làm cho quân Nguyên vốn chỉ quen khí hậu lạnh ở phương bắc bị bệnh dịch rất nhiều, lương thực lại cạn kiệt nên giảm sức chiến đấu. Trần Quốc Tuấn chỉ chờ cơ hội như vậy để phản công. Ông cử Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật , Trần Quốc Tỏan, Nguyễn Khoái,... chặn đánh quân thủy của Toa Đô ở Tây Kết,  Hàm Tử, Chương Dương... Đích thân Trần Quốc Tuấn thì đánh lên Vạn Kiếp. Quả nhiên quân Nguyên thất thế.  Toa Đô rút về Thiên Trường. Quân ở Vạn Kiếp chạy cả về Thăng Long. Liên lạc giữa hai cánh thủy bộ của quân Nguyên bị quân Trần cắt đứt. Quân Trần tập trung đánh Thăng Long. Thoát Hoan thua to, bỏ thành rút chạy về Bắc Ninh. Khi Toa Đô kéo lên Thăng Long định hội quân với Thoát Hoan thì Thóat Hoan đã chạy rồi . Toa Đô lui về đóng ở Tây Kết. Đến đây, Toa Đô bị đại quân của vua Trần bắn chết, Nguyên quân bị đánh tan tác chết vô số kể. Các tướng Ô Mã Nhi, Lưu Khuê dắt tàn quân chạy vào Ái Châu. Quân Trần truy đánh rất rát cuối cùng Ô Mã Nhi, Lưu Khuê phải bỏ thuyền tướng lấy thuyền nhỏ tháo chạy ra biển về nước, quân Trần bắt sống được vài vạn tàn quân. Phía Thóat Hoan, sau khi về Bắc Ninh lại bị quân Trần đón đánh thì chạy sang Vạn Kiếp nhưng ở đây Trần Quốc Tuấn cũng đã bố trí sẵn quân mai phục. Giữa lúc quân Nguyên đang vượt sông Thương, quân Trần đổ ra đánh. Quân Nguyên chết vô số kể. Thoát Hoan cùng bộ tướng Lý Hằng gom tàn quân chạy về nước. Tới biên giới thuộc Lạng Sơn, quân Trần phục sẵn trên núi bắn tên xuống như mưa, Lý Hằng trúng tên độc chết liền. Thoát Hoan được hộ tướng giấu vào một vật dụng bằng đồng bỏ lên xe cho lính kéo chạy nhờ vậy sống sót, chạy thoát về nước. Đại Việt sạch bóng quân Nguyên.

TRẦN ĐÁNH NGUYÊN MÔNG 3

Cuối năm 1287, Hốt Tất Liệt gom 30 vạn quân giao Thoát Hoan chỉ huy thẳng tiến Đại Việt để báo thù. Lần này quân Nguyên cũng chia làm 3 đạo: Thoát Hoan tiến vào qua ngả Lạng Sơn, Ai Lỗ vào theo hướng dọc sông Lô (sông Hồng ngày nay), Ô Mã Nhi theo đường biển vào sông Bạch Đằng, ngòai ra còn có đoàn thuyền lương thực do Trương Văn Hổ chỉ huy đi sau Ô Mã Nhi. Các cánh quân Nguyện hẹn hội quân tại Vạn Kiếp.

Quân Trần tổ chức đánh chặn nhưng cũng như lần trước. Quân Nguyên lúc này còn hăng hái nên tiến được vào đến Vạn Kiếp tuy bị tổn thất chút ít. Ô Mã Nhi có lẽ nóng lòng báo thù nên tung tăng đi trước bỏ đoàn thuyền lương nặng nề của Trương Văn Hổ khá xa. Khi Ô Mã Nhị họp quân với Thóat Hoan ở Vạn Kiếp thì đòan thuyền lương còn ở ngòai biển. Sau đó thì bị Trần Khánh Dư đánh chìm toàn bộ ở Vân Đồn. Thoát Hoan và Ô Mã Nhi trong đất liền không hề hay biết. 

Tại Vạn Kiếp, Thoát Hoan chỉnh đốn đội ngũ tấn công Thăng Long. Trần Quốc Tuấn lại để thành Thăng Long vườn không nhà trống. Thoát Hoan vào Thăng Long không bắt được vua Trần liền sai Ô Mã Nhi gấp rút đuổi bắt. Không đuổi kịp, Ô Mã Nhi trút bực tức bằng cách cho quân cuớp bóc dân chúng, đốt phá nhà cửa, chùa chiền, đào bới lăng mộ vua Trần Cảnh,..
Không ở được Thăng Long, Thoát Hoan cho quân lui về Bắc Giang, Vạn Kíếp sai Ô Mã Nhi ra biển tìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ. Ô Mã Nhi ra đến cửa biển Đại Bàng (Hải Phòng) thì bị đánh tơi bời. Quân Trần bắt được 300 chiến thuyền. Ô Mã Nhi quay về Vạn Kiếp. Vua Trần cho người mang theo tù binh bắt được của đoàn thuyền lương sang trại Thoát Hoan thông báo đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ đã bị diệt rồi. Tin đó làm quân Nguyên lo sợ vì lương thực đã hết. Cùng lúc quân Trần phản công ở khắp nơi. Sợ nguy, Thoát Hoan vội bàn với các tướng rút quân về nước. Tất cả tướng Nguyên đều đồng ý. Thoát Hoan rút theo đường bộ theo ngả Lạng Sơn, Ô Mã Nhi rút theo sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quốc Tuấn đã cho quân mai phục tất cả mọi nẻo đường rút chạy. Ô Mã Nhi, cùng bộ tướng là Phàn Tiếp lọt vào trận địa bãi cọc ở cửa sông Bạch Đằng, bị bắt sống, máu quân Nguyên nhuộm đỏ nước sông. Trên bộ, Thoát Hoan cũng bị chặn đánh nhiều trận. Xác quân Nguyên trải dài từ Vạn Kiếp tới biên giới Lạng Sơn. 

Cuối tháng 4/1288, Thoát Hoan mới về được châu Tư Minh (Quảng Tây, Trung Quốc). Đại Việt lại sạch bóng giặc ngoại xâm.

TRẦN - ỔN ĐỊNH - HƯNG THỊNH 

Sau chiến  thắng quân Mông Nguyên lần thứ 3, Đại Việt có được một thời gian dài ổn định và phát triển hưng thịnh. Nhưng từ đời vua Trần Dụ Tông trở đi thì nước Đại Việt đã có nhiều biểu hiện suy thoái. Vua quan bất tài, ăn chơi, sa đọa. Ngôi báu nhà Trần đã có lúc rơi vào tay ngọai tộc, giặc giã nỗi lên như nấm, các nước lân cận đều mang quân tràn sang cướp phá…Từ đời vua Trần Nghệ Tông trở đi, Hồ Quý Ly nổi lên là một nhà chính trị có tài và được trọng dụng. Nhờ đó nhân buổi rối ren, suy thoái của nhà Trần, Hồ Quý Ly đọat được ngôi báu.

HỒ
 
Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu, và tiến hành nhiều cuộc cải cách lớn, trong đó có việc đổi tiền đồng sang tiền giấy “thông bảo hội sao”. Tuy nhiên không phải cuộc cải cách nào cũng được lòng dân chúng.

Năm 1406, nhà nước phong kiến bên Trung Quốc lúc này là nhà Minh cử các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ,… đem quân xâm lược nước Đại Ngu. Quân quan nhà Hồ chống cự quyết liệt nhưng vì Đại Ngu lúc đó chưa ổn định, nhà Hồ chưa được dân chúng ủng hộ,… nên cuối cùng quân Minh đập tan sức kháng cự của quân Hồ. Hồ Quý Ly cùng con trai và nhiều tướng bị bắt giải sang Trung Quốc. Nhà Minh nhập Đại Ngu thành quận Giao Chỉ của họ. Lúc đó nhân dân Đại Ngu mới bắt đầu khởi nghĩa ở nhiều nơi. Hic. 

Năm 1407, Trần Ngỗi rồi Trần Quý Khoáng là quý tộc tôn thất nhà Trần, tiến hành khởi nghĩa chống quân Minh. Ban đầu cũng giành được một số thắng lợi đáng kể nhưng sau đó trong nội bộ mất đoàn kết nên nghĩa quân suy yếu và bị dập tắt vào năm 1412.

HẬU LÊ

Năm 1418, sau khi quy tụ được nhiều hào kiệt khắp nơi trong nước, trong đó có Nguyễn Trãi, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa tại núi Lam (thuộc Thanh Hóa ngày nay). Ban đầu lực lượng nghĩa quân còn yếu, chừng vài nghìn người, nhưng cũng dùng mưu thắng được nhiều trận lớn gây thanh thế như ở Lạc Thủy, Mường Một... Quân Minh tăng cường đàn áp với sự giúp đỡ của nhiều kẻ bán nước, chỉ điểm nên có lúc chúng đẩy nghĩa quân lâm vào tình trạng hiểm nghèo. Ba lần nghĩa quân phải trốn lên núi Chí Linh, chịu cảnh đói khát, thiếu thốn trăm bề. Ở lần thứ hai rút lên núi Chí Linh, năm 1419, nhờ 500 quân cảm tử do Lê Lai dẫn đầu đánh xông ra, mạo danh Lê Lợi để cho giặc bắt giết nên nghĩa quân mới được bảo tòan xuống núi. Nghĩa quân Lê Lợi chiến đấu như vậy ròng rã mấy năm trời cho đến năm 1424 thì mới tạo nên chuyển biến có lợi cho mình.

Đầu năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã giành lại phần lớn đất nước, dồn quân Minh vào cố thủ trong 4 thành Đông Quan (Thăng Long), Chí Linh, Cổ Lộng, Tây Đô. Tướng quân Minh lúc đó là Vương Thông phải cho người về nước xin viện Binh. Tuy nhiên, cả hai cánh quân cứu viện, với số quân 15 vạn, do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy đều bị quân Lê Lợi tiêu diệt ngay tại cửa ải. Liễu Thăng bị chém đầu tại trận ở ải Chi Lăng. Mộc Thạnh hay tin thì đang đêm mang quân chạy về nước nhưng cũng bị phục đánh tơi bời. Quân Lê Lợi giết được hàng nghìn lính, thu nhiều ngựa và vàng bạc, khí giới. 

Ngày 10/12/1427, túng quẫn vì bị vây mà không có viện binh, quân Minh đang cổ thủ trong các thành đều ra hàng. Lê Lợi tha cho 10 vạn giặc Minh và còn cấp đủ lương thực cho chúng, sửa cầu đường cho chúng rút về nước. Cả bọn đều bái lạy.

Đầu năm 1428, Lê Lợi làm lễ lên ngôi Hoàng Đế ở thành Đông Kinh (Thăng Long) khôi phục tên nước Đại Việt mở đầu triều đại nhà Lê. (Gọi là nhà hậu Lê để phân biệt với nhà tiền Lê của Lê Đại Hành trước kia).

Nhà hậu Lê phát triển ổn định và đại nhiều thành tựu lớn trong xây dựng đất nước qua năm đời vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông. Đến đời vua Lê Uy Mục thì bắt đầu xuống dốc.

MẠC

Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi vua cho mình. Trước đó, ông ta cậy có nhiều công nên lạm quyền, kết bè cánh và đã phế truất ngôi của Lê Chiêu Tông giao cho Lê Cung Hoàng. Nhà Mạc thành hình. Ở trong nước là thế nhưng khi lên ngôi, Mạc Đăng Dung lại hèn kém trong ngọai giao với nhà Minh, nhún nhường nhận chức An Nam đô thống sứ do vua Minh “trao tặng” khiến nhân dân và nhiều quan lại phẫn nộ.

Năm 1530, Lê Ý ở Thanh Hóa nổi quân chống lại nhà Mạc.

Năm 1532, Nguyễn Kim tôn con của Lê Chiêu Tông lên làm vua (Lê Trang Tông), đóng ở Thanh Hóa, nhiều quan lại của cũ của nhà Lê cũng theo về phò tá tạo nên một triều đình mới đối lập với nhà Mạc ở phía bắc. Đại Việt lúc đó vì thế có hai triều đình ở hai miền nam, bắc.

Năm 1546, Sau khi Nguyễn Kim chết, vua Lê phong con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay. Trịnh Kiểm tiến hành lọai trừ phe cánh của Nguyễn Kim để tập trung quyền lực vào tay mình. Các con của Nguyễn Kim, Nguyễn Uông bị bắt giết, Nguyễn Hoàng lo sợ nên tìm cách lánh bằng cách xin trấn giữ ở vùng Thuận Hóa. Trịnh Kiểm thuận ý cho vào. Họ Nguyễn vào vùng đó ngấm ngầm có ý lập nên “vương quốc” riêng của mình chống lại họ Trịnh nhưng bên ngoài vẫn tỏ về thuần phục, giúp họ trịnh chống họ Mạc.

Năm 1570, Trịnh Kiểm chết. Trịnh Tùng thay.

TRỊNH - NGUYỄN

Năm 1592, Trịnh Tùng đem quân đánh bại nhà Mạc ở Thăng Long, thống nhất đất nước, nhà Lê khôi phục, vua Lê bấy giờ là Lê Thế Tông. Tuy nhiên vua Lê chỉ là cái bóng. Họ Trịnh lập ra vương phủ riêng tồn tại bên cạnh triều đình vua Lê. Quyền lực nằm cả trong tay họ Trịnh.

Năm 1613, Nguyễn Hoàng ở phía Nam chết. Con là Nguyễn Phúc Nguyên vâng lời cha “dạy bảo nhân dân, luyện tập binh sĩ kháng cự lại họ Trịnh” để “xây dựng cơ nghiệp muôn đời”.

Năm 1627, lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên không chịu nộp thuế, họ Trịnh đem quân vào đánh. Cuộc chiến giữa hai họ bắt đầu từ đó. Đại Việt bị chia cắt thành hai “đàng” lấy sông Gianh làm ranh giới. Đàng Ngoài tính từ  bờ bắc sông Gianh trở ra bắc, Đàng Trong từ bờ nam sông Gianh trở vào nam. Ranh giới này tồn tại suốt gần 300 năm cho đến khi Nguyễn Huệ thống nhất vào năm 1786.

TÂY SƠN

Năm 1771, ở Đàng Trong, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nông dân khởi nghĩa ở Tây Sơn. Lúc này ở cả hai Đàng chính quyền phong kiến đều đã rất bê tha, suy tàn. Trải qua mấy trăm năm chia cắt, chiến tranh triền miên giữa hai Đàng đã làm cho đất nước điêu tàn, kiệt quệ, nông dân vô cùng đói khổ. Vì thế vô vàn nông dân đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Với khẩu hiệu “ Lấy của nhà giàu chia cho người nghèo”, quân Tây Sơn tiến đến đâu thì dân nghèo ở đấy đều tham gia. Thanh thế của nghĩa quân Tây Sơn lớn lên nhanh chóng. Hầu như đánh đâu thắng đấy. Chẳng mấy chốc chiếm toàn bộ Quy Nhơn, Quảng Ngãi.

Năm 1777, Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn vương, đóng ở thành Đồ Bàn (Bình Định), sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đánh thành Gia Định. Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ sau khi đánh lấy được thành, giết chết chúa Nguyễn Phúc Thuần, cắt người trấn thủ xong thì rút về Quy Nhơn. Nguyễn Ánh là cháu của Nguyễn Phúc Khoát (chúa Đàng Trong ngày xưa, trước Nguyễn Phúc Thuần) đem quân chiếm lại thành Gia Định. 

Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thái Đức.

Năm 1783, quân Tây Sơn đánh chiếm lại thành Gia Định, Nguyễn Ánh thua chạy trốn sang Xiêm (Thái Lan) cầu cứu.

Năm 1784, quân Xiêm cử Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn thủy quân, 300 chiến thuyền và Chiêu Thùy Biên đem 3 vạn quân bộ cùng Nguyễn Ánh tấn công Gia Định. Đến cuối năm đó thì chiếm được nửa đất Gia Định, Tây Sơn chỉ còn giữ hai thành Gia Định, Mỹ Tho.

Đầu năm 1785, Nguyễn Ánh và quân Xiêm từ Sa Đéc tiến đánh Mỹ Tho. Nguyễn Huệ cho quân mai phục, chặn đánh trên sông Mỹ Tho, đoạn ở Rạch Gầm- Xoài Mút. Quân Xiêm đại bại, chỉ còn vài ngàn bộ binh rút chạy về nước. Tây Sơn truy bắt Nguyễn Ánh nhưng không được. Nguyễn Huệ củng cố ba quân, cử tướng trấn giữ Gia Định rồi rút ra Tây Sơn cùng với Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh (một tướng Đàng Ngoài không phục Trịnh Khải, bỏ nhà Trịnh theo Tây Sơn) chiếm luôn thành Phú Xuân đang do Đàng Ngoài nắm giữ. Rồi nhân đà thắng lợi giành lại hết các vùng đất của Đàng Trong. Xong, lấy danh nghĩa giúp vua Lê diệt chúa Trịnh, tiến đánh luôn quân Trịnh ở Đàng Ngoài.

Năm 1786, Nguyễn Huệ chiếm được Thăng Long, lật đổ chúa Trịnh, trao lại quyền hành cho vua Lê Hiển Tông. Vua Lê thưởng công cho Nguyễn Huệ bằng cách phong Nguyễn Huệ là Uy Quốc Công, nhường đất Nghệ An cho Tây Sơn. Được vài hôm, Lê Hiển Tông vì bịnh nặng từ trước, qua đời. Vua kế vị là Lê Chiêu Thống. Sau đó, Nguyễn Huệ rút quân về phương Nam để Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại đất bắc. Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ chia nhau cai quản từ Nghệ An trở vào. Nguyễn Huệ sau khi chinh phục miền bắc được Nguyễn Nhạc phong làm Bắc Bình Vương, làm chủ từ Nghệ An đến Phú Xuân. Nguyễn Lữ giữ vùng đất phía nam, Gia Định. Nguyễn Nhạc giữ vùng Quãng Ngãi đến Bình Thuận.
Sau khi Nguyễn Huệ rút đi, miền bắc trở nên rối loạn. Các thế lực của họ Trịnh ra sức khôi phục lại cơ đồ. Lê Chiêu Thống phải dựa vào sức cửa Nguyễn Hữu Chỉnh để chống đỡ. Chỉnh dẹp yên được họ Trịnh, cậy mình có công lớn nên sinh ra lộng quyền, chống lại Tây Sơn, đòi lại đất Nghệ An.

Năm 1787, Nguyễn Huệ sai Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm ra bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh cùng vua Lê bỏ chạy lên phía bắc. Dọc đường Chỉnh bị bắt giết, Lê Chiêu Thống thoát sang đất nhà Thanh cầu cứu. Diệt được Chỉnh, Vũ Văn Nhậm lại lộng quyền. Nguyễn Huệ đích thân ra bắc giết chết Nhậm, đưa Ngô Văn Sở lên thay, tuyển dụng người giỏi, hiền tài để trao quyền hành. Nhà Lê mất từ đây.

Năm 1788, vua Thanh là Càn Long cử Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi Đống… đem 20 vạn quân cùng Lê Chiêu Thống tiến vào nước ta để “tiêu diệt Tây Sơn, dựng lại nhà Lê”.  Ngô Văn Sở bỏ trống Thăng Long rút về xây phòng tuyến ở Tam Điệp một mặt báo tin cho Nguyễn Huệ.  Tôn Sĩ Nghị vào Thăng Long quá dễ cho là Tây Sơn sợ mất mật nên trốn cả nên hống hách, coi thường Tây Sơn, cho quân cướp phá hết sức tàn bạo. Lê Chiêu Thống cũng thực hiện việc trả thù, báo oán cũng không kém phần tàn ác, ti tiện. 

Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo, ngày 22/12/1788, lập đàn tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung rồi hành quân thần tốc ra bắc. Qua vùng Nghệ An, Thanh Hóa đều tuyển thêm quân lính. Khi đến phòng tuyến Tam Điệp ngày 15/01/1779 đã có được đại quân hơn 10 vạn người.

Rạng sáng mùng 5 tết Kỷ Dậu, 30/01/1789, sau khi chuẩn bị kỹ càng, vua Quang Trung cho quân tấn cống thành Ngọc Hồi, cùng lúc đó cánh quân khác đánh vào đồn Khương Thượng ở Đống Đa, sát thành Thăng Long. Ở Ngọc Hồi, trước sức tấn công mãnh liệt, mưu trí của quân Tây Sơn, mặc dù chống trả kịch liệt nhưng quân Thanh cũng nhanh chóng để mất thành, chạy tán loạn, nhưng đều bị mai phục chết nhiều vô kể.  Ở Đống Đa, quân Tây Sơn do Đô đốc Đông chỉ huy cũng giành thắng lợi lớn. Thây giặc Thanh chất cao như núi. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử kéo theo nhiều bộ hạ thân tín tự sát theo, tàn quân chạy hết về Thăng Long. Quân Tây Sơn đuổi theo truy sát vào tận Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị lúc đó còn đang mơ màng trong giấc mộng, giật mình tỉnh giấc thì thấy quanh mình lửa cháy khắp nơi, sáng rực trời. Không kịp đóng yên cương, nhảy lên ngựa chạy trốn. Quân lính tranh nhau cướp đường chạy theo tướng về hướng bắc. Chen lấn xô đẩy qua cầu phao sông Hồng. Cầu chịu không nổi, đứt. Hàng vạn lính bị cuốn trôi theo nước dòng sông. Số chạy thoát đều bị mai phục, chặn đánh tơi bời.

Trưa mùng 5, vua Quang Trung tiến vào Thăng Long giữa tiếng hò reo của ba quân và dân chúng. Chỉ trong vòng một tuần, Vua đã từ Phú Xuân hành quân thần tốc đánh tan 20 vạn quân Thanh hùng hậu. Vua tiến hành khôi phục đât nước với nhiều cải cách triệt để giúp đất nước phát triển nhanh chóng. Đến năm 1792, vua Quang Trung mất, con là Quang Toản lên thay.

Năm 1793, Nguyễn Ánh từ Gia Định đem quân đánh tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc. (Nguyễn Ánh sau khi thất bại cùng với quân Xiêm, sống lưu vong nhiều năm, tới 1797 đã quay về chiêu mộ được nhiều binh lính, có cả người một số người Pháp do linh mục Bá Đa Lộc đưa tới, giúp sức, tái chiếm được thành Gia Định từ 1788 khi Quang Trung đang chuẩn bị đánh quân Thanh, Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn). Nguyễn Nhạc bị vây khốn phải cầu cứu Quang Toản. Quang Toản sai tướng đem quân giải vây xong thì có ý muốn chiếm luôn. Nguyễn Nhạc vì thế uất ức mà chết. Nguyễn Ánh rút nhưng từ đó thường đem quân đánh phá. Hai bên giành nhau thành Quy Nhơn mấy lần.

Sau khi Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc chết, nhà Tây Sơn do Quang Toản lãnh đạo. Nhưng vua còn non nớt nên bị Thái sư Bùi Đắc Tuyên lộng quyền gây nên nhiều mẫu thuẫn nội bộ. Các tướng tự đánh giết lẫn nhau. Triều đình suy yếu. Trong khi đó Nguyễn Ánh đựơc sự giúp sức của người Pháp ngày một mạnh lên.

Năm 1801, lợi dụng hai  tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng của Tây  Sơn đang đánh để giành lại thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đánh úp Phú Xuân, lấy được thành, vua Quang Toản chạy ra bắc. Hai tướng Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng sau khi chiếm đựơc Quy Nhơn, hay tin ấy quyết định bỏ thành, mượn đường Ai Lao tính ra bắc hội quân với Quang Toản. Dọc đường thì bị quân Nguyễn Ánh truy sát, bắt giết. Vua Quang Toản và các tướng còn lại cũng không chống được. Cuối cùng đều bị bắt giết. Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn rất dã man. Nhà Nguyễn Tây Sơn hoàn toàn bị diệt.

NGUYỄN

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam, mở ra triều đại nhà Nguyễn kéo dài cho tới năm 1945 qua các đời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... Tuy nhiên từ 1858 đến 1945, Việt Nam bị thực dân Pháp Xâm lược. Thực dân Pháp ra sức bóc lột tài nguyên, nhân, vật lực của Việt Nam, dìm các cuộc khởi nghĩa của nông dân, một số danh sĩ yêu nước trong biển máu.  Các vị vua cuối triều Nguyễn không có quyền quyết định các quốc sách. Họ chỉ là những vị vua bù nhìn, chỉ biết lo cho thân phận mình được yên ổn. Họ đã bất lực đầu hàng Pháp, không giúp gì được cho đất nước lại còn bóc lột dân chúng bằng lắm thứ tô thuế,… nặng nề để phục vụ cho cuộc sống xa hoa của họ.

VIỆT NAM

Năm 1945, nhân dân Việt Nam đã lật đổ được chính quyền của Pháp, Nhật, lật đổ chế độ quân chủ phong kiến của nhà Nguyễn để lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một thể chế nhà nước mới mà tất cả nhân dân lao động được làm chủ đất nước, bình đẳng với nhau, không có ai bóc lột ai cả.

Cảng biển Việt Nam

Số lượng?

21 cảng dọc 3200 km bờ biển. Trung bình cứ 150km thì có 1 cảng.

Vân Phong

Dự án cảng Vân Phong là cảng trung chuyển quốc tế đầu tiên của Việt Nam được giao cho Vinalines làm chủ đầu tư, với tổng mức đầu tư hơn 3,6 tỷ USD.

31/10/2009: Khởi công

Đầu tháng 09/2012: Văn phòng Chính phủ đã gửi công văn tới Bộ Giao thông Vận tải thông báo quyết định của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc dừng thực hiện dự án xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong dựa trên đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải và ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Cuối tháng 09/2012: Báo chí loan tin Cảng Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) sẽ được tiếp tục xây dựng sau năm 2015 "bằng hình thức xã hội hóa từ các nhà đầu tư đủ năng lực trong nước cũng như quốc tế", Thứ trưởng Bộ GTVT - Nguyễn Hồng Trường, được trang mạng Đài tiếng nói Việt Nam trích thuật.

Vị trí?

Vietnam is a bad example to newly emerging markets

October 1, 2012

By Rob Cox


This column appears in the Oct. 1 edition of Newsweek magazine. The author is a Reuters Breakingviews columnist. The opinions expressed are his own.

Almost exactly two years ago this week, Christine Gregoire, the governor of the U.S. state of Washington, was in Vietnam handing out French fries made from potatoes grown in her state at a Kentucky Fried Chicken outlet in Ho Chi Minh City. Gregoire, accompanied by representatives of more than 50 companies from home, was in Vietnam trying to drum up business with America’s former military adversary. But the most important stop on Gregoire’s itinerary may have been a ribbon-cutting ceremony for a new deepwater shipping terminal at Cai Mep.

Things looked hopeful then. But now the venture, like so many others in Vietnam, is plagued by red ink and scandal. It’s sadly not an unusual story. The country looked on track to take its place as an Asian tiger economy, a smaller version of its giant neighbor to the north, China. The nation boasts a large youthful population, a very high literacy rate, abundant natural resources, agricultural self-sufficiency, a stretch of coastline to rival California’s or Thailand’s, and a strategic position amid the trade routes of the Pacific.

Instead, Vietnam is now looking increasingly like a basket case – and an example for just-emerging countries such as Myanmar of exactly how not to manage the opening-up of an economy.

The Cai Mep facility in Ba Ria-Vung Tau province, on the southern coast about 50 miles from Vietnam’s commercial capital, Ho Chi Minh City, seemed ideal – a joint venture between Seattle-based Carrix’s SSA Marine unit and Saigon Port, a division of state shipping complex Vietnam National Shipping Lines, known as Vinalines. After six years of preparation by SSA, the $160 million port christened by Governor Gregoire promised to fill a huge gap in Vietnam’s infrastructure. Fast forward, though, and it is suffering from a double whammy familiar to many foreign investors: the global economic slowdown coupled with local corruption.
The number of container ships calling at the port and two other foreign joint ventures operated by Vinalines plunged by half in the second quarter amid a price war among other port operators struggling with unused capacity. And Vinalines is foundering under a huge load of debt and an embezzlement scandal that led to the arrest in July of six of its executives. After a three-month Interpol manhunt, Chairman Duong Chi Dung, once the head of the country’s maritime administration, was arrested abroad and extradited to Vietnam last month.

Vietnam, in short, has gone from global investment darling to poster child for mismanagement. Too much money flowed into the country over the past decade, particularly following its admission to the World Trade Organization in January 2007. Foreign direct investment that year surpassed the dollars going to Indonesia, the Philippines, Thailand, and the rest of the region combined, according to the World Bank. The country’s creaky communist institutions couldn’t absorb all the funds, leading to a textbook instance of what economists call capital misallocation. On Friday, Moody’s downgraded the creditworthiness of eight Vietnamese banks and cut the country’s credit rating to B2, the lowest ever.

“Vietnam offers a classic case of a small country that had greatness thrust upon it,” according to Ruchir Sharma, author of Breakout Nations and head of emerging-market equities at Morgan Stanley Investment Management in New York. “Its rulers were neither prepared nor competent to handle the huge inrush of foreign capital in the last decade.”

At first, the cash went to building what seemed like useful infrastructure, such as the Cai Mep port, roads, bridges over the Red River and the Mekong, and highways –though many show little sign of upgrades since the Americans left in 1973.

Then it flowed into apartment buildings, including luxury residences. Many of these, particularly around Ho Chi Minh City, stand vacant or unfinished. And there were the industrial parks meant to house all those foreign manufacturers, built on the outskirts of cities by displacing rice paddies and pomelo farmers. Indeed, 20 of these parks covering some 3,645 hectares of former farmland were built in the Mekong Delta province of Cuu Long alone. Yet as of July, only 810 hectares of that space had been leased, according to a report in the official Vietnam News.

This overinvestment would have created a hangover on its own. But when the global financial crisis dented world trade and slowed foreign capital flows starting in 2008, Vietnam’s banks, prodded mightily by the government, stepped in to keep the money flowing. By HSBC’s reckoning, credit has grown fourfold over the past six years.

Worse, the bulk of the money flowed to inefficient state-owned enterprises like Vinalines, led by political apparatchiks and the well-connected beneficiaries of a party spoils system. Vietnam’s 100 largest state enterprises are now indebted to the tune of about $50 billion, or more than one third of the country’s GDP, Reuters calculates. Should some of these conglomerates collapse – which hardly seems farfetched–it could trigger a huge banking crisis.

The arrest in August of one of the country’s richest businessmen, Nguyen Duc Kien, further exposed Vietnam’s shaky financial system. Kien was seized for alleged fraud and economic mismanagement arising from efforts to shore up the bank he founded, Asia Commercial Bank. The news had depositors lining up to pull out their money, sent stocks plunging, and caused a surge in the retail price of gold, the traditional refuge for Vietnamese savers.

Vietnam’s banking troubles are by no means confined to Asia Commercial Bank, whose founder’s ties to Prime Minister Nguyen Tan Dung sparked speculation that the Communist Party is redoubling efforts to crack down on corruption within the government. Central bank governor Nguyen Van Binh shocked the country in July when he warned that nonperforming loans constituted almost 9 percent of all lending – contradicting official data that had reported duff loans amounting to just 4 percent a few months earlier. The real number is likely to be far higher, foreign bankers say.

So banks need an injection of capital. The National Assembly’s economic committee estimated on Sept. 4 that around $12 billion would do it – but that’s probably just the start. With international reserves of only some $14 billion, according to the International Monetary Fund, that won’t be easy. The government could run the printing presses, but that would batter the country’s currency, the dong, and fuel inflation, which the authorities have tried with mixed success to tame.

Another way to improve matters would be to attract foreign capital back to Vietnam. But the once enthusiastic foreigners are shy now that they’ve been bitten. The country has managed only one international bond offering this year – a $250 million deal for Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade, or VietinBank. That happened in May before things looked as bad as they do now, and even so the bank raised only half as much as it hoped despite paying an 8 percent yield. It was the first attempt to raise money after state-owned Vietnam Shipbuilding Industry Group, or Vinashin, defaulted on a $600 million loan.

All this, it might be argued, could stem from shaky economic fundamentals. But foreign investors are also now leery of trusting the government, and with reason. In the bankruptcy of Vinashin, for instance, Hanoi didn’t make good the debts of what was patently a state-controlled enterprise, sparking lawsuits by bondholders including New York investment firm Elliott Associates.

And if that sounds like the gripe of a sharp-elbowed U.S. hedge fund, there are other situations that cast doubt on Vietnam’s commitment to the rule of law. In one of these, International Textile Group (ITG), owned by U.S. private equity mogul Wilbur Ross, is battling with Phong Phu, its partner in a clothing joint venture set up six years ago in Da Nang. Phong Phu is controlled by state-owned enterprise Vietnam National Textile and Apparel Group, known as Vinatex. The dispute, over financial commitments, is supposed to be resolved through arbitration in Singapore. But government parties sympathetic to Vinatex have pressured a Vietnamese court to rule on certain matters between the two companies. Such involvement by the Vietnamese court directly contravenes the parties’ agreement to arbitrate in Singapore.

The combination of scarce domestic financial resources and a near-boycott of the country by international investors leaves Vietnam with few options. A bailout of some sort can’t be excluded. While China has the capital, it’s hard to imagine the Vietnamese surrendering even a glimmer of sovereignty to their historic adversary. The United States, which is diplomatically snuggling up to Vietnam and other Southeast Asian nations as a bulwark against increasing Chinese power in the region, is rich but also has financial problems of its own. Washington could, however, easily assist in helping put together an IMF funding package. Such a deal might even lay the groundwork for a return of American naval ships to Vietnamese ports like Cam Ranh Bay.

Either way, the current disillusionment suggests that any money that flows to Vietnam will come with strings attached. Deep reform, including privatization, of the country’s lumbering state-owned enterprises and greater adherence to the rule of law will be required. Both would upset the ruling elite, whose Porsches and Bentleys vie with bicycle rickshaws in the clogged streets of old Hanoi. The justifiably proud Vietnamese won’t want to cede much, if any, influence to the likes of the IMF. But if they can find ways to change things cautiously for the better, they could yet offer a more positive example to Myanmar and other emerging economies.

Retrieved from Reuters Blog